Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Hội Trại Chào Mừng Tháng 3 Lịch Sử - Chi Đội Hà Huy Tập Lớp 8/5

     Để chào mừng tháng 3 lịch sử, học sinh trường THCS Lý Tự Trọng nói chung – học sinh lớp 8/5 chúng em  nói riêng lại hân hoan chuẩn bị ngày hội trại với tinh thần đoàn kết hơn bao giờ hết. Mặc dù bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu nhưng nụ cười luôn hiện hữu trên môi mỗi người. Và dẫu thời gian có ngắn ngũi nhưng chắc chắn những phút giây bên nhau cùng sinh hoạt, cùng cất lên tiếng ca trong nhạc điệu của tiếng đàn giutar sẽ mãi là thời khắc hạnh phúc nhất, đáng trân trọng nhất ở tuổi đời học sinh.

     Sau đây là một số hình ảnh của ngày hội:
 Trại hướng nghiệp lớp chúng em có chủ đề “Đông Y” với cổng trại được lấy ý tưởng từ thầy thuốc Tuệ Tĩnh.   
 Chiếc lều được dựng lên từ chính các bạn học sinh lớp 8/5. Bên cạnh trưng bày những cây thuốc, thảo                                                                         dược quí hiếm trong Đông Y.                                                                                              
                         
 
          
                                        “Vườn thuốc Nam” là công sức của các cô giáo viên thực tập.                                                                  
                                                                                                                                                                           
 
                                           Chúng em đã có một khoảng thời gian vui vẻ bên các cô.                                                                              
         
                                                   Cùng hát ca sinh hoạt với cây đàn giutar và cajon.                                                                                                                   

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2014

Ông Tổ Nghề Y-Lê Hữu Trác

Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác, thân thế và sự nghiệp, là niềm tự hào của dân tộc ta. Tuy sống cách ta hơn 250 năm, những tư tưởng và phương pháp tư tưởng tiến bộ cũng như thái độ khoa học chân chính của Hải Thượng Lãn Ông vẫn còn là bài học còn tính chất thời sự và rất quý báu đối với chúng ta ngày nay.
HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG - LÊ HỮU TRÁC
Lê Hữu Trác (1720 - 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, quê ở làng Liêu Xá, huyện Đường Hào (nay là huyện Mỹ Vǎn, tỉnh Hải Hưng).ông là nhà y học có học vấn uyên bác, nhà dược học nổi tiến, nhà thơ, nhà vǎn xuất sắc, nhà tư tưởng tiến bộ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân đạo, có ý chí độc lập sáng tạo trong nghiên cứu.

Lê Hữu Trác xuất thân từ một gia đình (ông, cha, chú, bác, anh, em) đều học giỏi, đỗ cao, làm quan to của thời vua Lê chúa Trịnh. Cha là Lê Hữu Mưu đỗ đệ tam giáp tiến sĩ và làm quan dưới triều Lê Dụ Tôn tới bậc thượng thư. Mẹ là Bùi Thị Thưởng quê ở xứ Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Biệt hiệu Hải Thượng do hai chữ đầu tiên tỉnh (Hải Dương) và tên phủ (Thượng Hồng), nhưng cũng có thể do chữ Bầu thượng là quê mẹ và là nơi Hải Thượng ở lâu nhất, từ năm 26 tuổi đến khi mất. Hải Thượng Lãn Ông có nghĩa là ông lười ở Hải Thượng. Nhưng thực tế chúng ta sẽ thấy lười ở đây là lười với công danh phú quý nhưng rất chăm chỉ đối với sự nghiệp chữa bệnh cứu người.
Lúc nhỏ, Lê Hữu Trác theo cha lưu học ở thủ đô Thăng Long. Ngày còn đi học, Lê Hữu Trác đã nổi tiếng là học trò hay chữ, và đã thi vào tam trường.
Năm 19 tuổi, cha mất sớm nên Lê Hữu Trác phải thôi học về nhà chịu tang. Lúc này khắp nơi nghĩa quân nổi lên chống chính sách hà khắc của chúa Trịnh, nhân dân rất khổ sở, nghĩa quân lại nổi ngay ở làng bên cạnh quê hương, nên không thể ngồi yên mà học được. Lê Hữu Trác đành xếp bút nghiên theo nghiệp kiếm cung. Nhưng để chuẩn bị vào nghiệp kiếm cung, Lê Hữu Trác đã có những ý kiến khác với nhiều thanh niên thời đó. Lê Hữu Trác đã tìm gặp một ẩn sĩ họ Vũ ở làng Ðặng Xá, huyện Hoài An rất giỏi môn Thiên nhân (một môn học về thiên văn, địa lí, bày binh bố trận, bói toán...) dạy cho thuật âm dương sau vài năm nghiên cứu thuật âm dương, Lê Hữu Trác mới đeo gươm tòng quân. Lê Hữu Trác đã viết về thời kỳ này của đời mình như sau: "...Tôi nghiên cứu thuật âm dương trong vòng vài năm, cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình. Vượt bao phen nguy hiểm, tôi cũng được bình yên. Những kế hoạch trù tính trong quân cơ phần nhiều đều phù hợp... Thống tướng (của chúa Trịnh) nhiều phen muốn đề bạt nhưng tôi nghĩ: chí bình sinh chưa thỏa mãn thì cầu cạnh làm chi...".
Rõ ràng đây là công việc không hợp ý Lê Hữu Trác. Cho nên khi được tin người anh mất, Lê Hữu Trác xin ra khỏi quân ngũ, lấy cớ về thay anh "nuôi mẹ già 70 tuổi và mấy cháu mồ côi" ở Hương Sơn.
Hải Thượng Lãn ông tên thật là Lê Hữu Trác, quê tại thôn Văn Xá, làng Lưu Xá, huyện Ðường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Hưng).
Phát huy truyền thống của Tuệ Tĩnh, ông đã sưu tầm phát hiện thêm 300 vị thuốc nam (Lĩnh Nam bản thảo) đồng thời tổng hợp thêm 2854 phương thuốc kinh nghiệm phổ biến cho nhân dân áp dụng "Hành giản trân nhu và Bách gia trân tàng". Ông cũng đã có những sáng tạo đặc sắc trong việc vận dụng lý luận y học vào thực tiễn Việt Nam.
Cái quý nhất trong việc đào tạo lớp lương y mới, Lãn Ông chú trọng xây dựng y đức người thày thuốc, ông thường nói "Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công" Những lời rǎn của Hải Thượng Lãn Ông
"Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công...
"Thường thấy kẻ làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo, hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp; bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó chữa bảo là không chữa được, giở lối quỉ quyệt ấy nhằm thoả mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu sang, thì tỏ tính sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo hèn thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi, đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng buôn bán. Như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được...
"Nghề làm thuốc là nhân thuật, thầy thuốc hẳn phải lấy việc giúp người làm điều hay. Cứu được một người thì khoa chân, múa tay cho mọi người biết) nhỡ có thất bại thì giấu đi. Thường người ta hay giấu các điều xấu của mình mà không đem sự thực nói với người khác. Riêng tôi dám nói là thoát khỏi những thói đó chǎng, là vì tôi không theo con đường khoa cử nối dõi nghiệp nhà, chuyển hướng ra làm thuốc nên chỉ muốn hết sức làm những việc đáng làm, may ra khỏi hổ thẹn với đất trời, đâu dám e ngại sự chê khen, để phải hối hận với bổn phận...


"Nghĩ thật sâu xa, tôi hiểu rằng thầy thuốc là người bảo vệ sinh mạng con người. sống chết trong tay mình nắm, họa phúc trong tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành động không thận trọng mà làm liều lĩnh học đòi cái nghề cao quí đó chǎng".

8 tội người thầy thuốc cần tránh:

  1. - Có bệnh xem xét đã rồi mới cho thuốc, vì ngại đêm mưa vất vả không chịu thǎm mà đã cho phương, đó là lội lười.
  2. - Có bệnh cần dùng thứ thuốc nào đó mới cứu được nhưng sợ con bệnh nghèo túng không trả được vốn nên chỉ cho thuốc rẻ tiền, đó là tội bủn xỉn.
  3. - Khi thấy bệnh chết đã rõ, không bảo thực lại nói lơ mơ để làm tiền, đó là tội tham lam.
  4. - Thấy bệnh dễ chữa nói dối là khó chữa, dọa người ta sợ để lấy nhiều tiền, đó là lội lừa dối.
  5. - Thấy bệnh khó đáng lẽ nói thực rồi hết lòng cứu chữa nhưng lại sợ mang tiếng không biết thuốc, vả lại chưa chắc chắn đã thành công, không được hậu lời nên không chịu chữa đến nỗi người ta bó tay chịu chết, đó là tội bất nhân.
  6. - Có trường hợp người bệnh ngày thường có bất bình với mình khi mắc bệnh phải nhờ đến mình liền nghĩ ra ý nghĩ oán thù không chịu chữa hết lòng, đó là tội hẹp hòi.
  7. - Thấy kẻ mồ côi goá bụa, người hiền, con hiếm mà nghèo đói ốm đau cho là chữa mất công vô ích không chịu hết lòng, đó là tội thất đức.
  8. - Lại như xét bệnh còn lơ mơ, sức học còn non đã cho thuốc chữa bệnh, đó là tội dốt nát.
Hải Thượng Lãn ông đã đề ra 9 điều dạy trong "Y huấn cách ngôn" để dǎn dạy người thây thuốc mà hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, thí dụ:
- Phàm người mời đi thǎm bệnh, nên tùy bệnh kíp hay không mà sắp đặt thǎm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi đến trước, chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt nơi hơn kém.
- Khi đến xem bệnh ở nhà nghèo túng, hay những người mồ côi, goá bụa hiếm hoi, càng nên chǎm sóc đặc biệt; vì những người giàu sang không lo không có người chữa; còn người nghèo hèn, thì không đủ sức đón được thày giỏi, vậy ta để tâm một chút, họ sẽ được sống một đời, còn những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc mà không có ǎn, thì vẫn đi đến chỗ chết.
- Khi chữa bệnh cho ai khỏi rồi, chớ có mưu cầu quà cáp, vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí thất thường mà mình cầu cạnh thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là nghề thanh cao, ta càng phải giữ khí tiết cho trong sạch.
Trang Web Bộ Y Tế
Về Hương Sơn không lâu thì Lê Hữu Trác bị ốm nặng trong vòng hai, ba năm liền chữa khắp nơi không khỏi. Chính trận ốm này là bước ngoặt quan trọng đối với cuộc đời của Lê Hữu Trác và nghề thuốc Việt nam. Sau nhiều năm tìm thầy chữa bệnh không kết quả, Lê Hữu Trác nhờ cáng đến nhà một thầy thuốc ở Rú Thành thuộc xã Trung Cần, huyện Thanh Chương (nay là xã Nam Trung, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An) tên là Trần Ðộc thi đỗ cử nhân rồi ở nhà làm thuốc được nhân dân rất tín nhiệm. Qua hơn một năm ở nhà thầy thuốc, Lê Hữu Trác đã khỏi bệnh. Trong thời gian nằm chữa bệnh ở đây, những lúc rỗi rãi Lê Hữu Trác mượn bộ sách thuốc Phùng thi cẩm nang Trung quốc để đọc, phần lớn đều hiểu thấu, thầy thuốc Trần Ðộc lấy làm lạ và đã có ý muốn truyền đạt nghề mình cho Lê Hữu Trác. Mặc dù lúc này Lê Hữu Trác đã phát hiện thấy trên đời còn một công việc rất quan trọng đối với con người là bảo vệ sức khỏe, chữa bệnh cứu người nhưng cũng chưa quyết chí học thuốc. Lê Hữu Trác đã viết: "... Những chỗ ý nghĩa sâu xa về dịch lý âm dương trong sách thuốc, tôi đều hiểu thấu. Trần tiên sinh lấy làm lạ muốn đem hết cái hiểu biết về y học dạy cho tôi, nhưng lúc bấy giờ vì bận việc tôi chưa chú ý học...".
Ðến khi Lê Hữu Trác 30 tuổi, sức khỏe đã trở lại, tướng của chúa Trịnh cho người tới mời Lê Hữu Trác trở về quân ngũ, Lê Hữu Trác cố ý xin từ và lúc này mới quyết chí học thuốc. Lê Hữu Trác viết: "...Cái chí bon chen trong trường danh lợi mình đã vứt bỏ đi lâu rồi, nên xin cố từ, lấy cớ còn mẹ già không thể đi xa được. Và trở lại Hương Sơn làm nhà ở ven rừng quyết chí học thuốc, tìm đọc khắp các sách, đêm ngày mài miệt, tiếc từng giây phút". Và từ đấy Lê Hữu Trác lấy biệt hiệu là Hải Thượng Lãn Ông.
Vì nơi ở của Hải Thượng rất hẻo lánh, trên không có thầy giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp cho, Hải Thượng phải tự học là chính. Ðể việc học tập có kết quả hơn, Hải Thượng đã làm bạn với một thầy thuốc nữa cũng họ Trần ở làng Ðỗ Xá gần làng Tình Diệm để cùng nhau trao đổi những kiến thức thu thập được trong khi đọc sách.
Do kiến thức rộng, chẩn bệnh kê đơn thận trọng cho nên Hải Thượng Lãn Ông đã chữa khỏi nhiều trường hợp khó mà người khác chữa không khỏi, tên tuổi Hải Thượng lan nhanh khắp nơi, tới tận thủ đô Thăng Long. Trong thời kỳ này, cùng với việc chữa bệnh Hải Thượng Lãn Ông đã mở trường đào tạo thầy thuốc, người quanh vùng và các nơi xa nghe tiếng đều tìm đến học. Lãn Ông lại tổ chức ra Hội y ?? nhằm đoàn kết những người đã học xong ra làm nghề và để có cơ sở cho họ liên hệ trao đổi học hỏi nhau.
Vừa chữa bệnh, vừa dạy học, Hải Thượng Lãn Ông vừa biên soạn sách, vì Hải Thượng nghĩ rằng: "... Tôi thấy y lí bao la, sách vở chồng chất, chia môn xếp loại tản mạn vô cùng. Những sách do những bậc hiền triết tiền bối luận về bệnh, về ý nghĩa đơn thuốc, về tính vị bài thuốc có nhiều chỗ chưa nói đến nơi đến chốn, tất phải thâu tóm hàng trăm cuốn, đúc thành một pho để tiện xem, tiện đọc".
Năm 62 tuổi, Hải Thượng Lãn Ông được chúa Trịnh Sâm triệu ra thủ đô Thăng Long để chữa bệnh cho con là Trịnh Cán. Việc ra thủ đô vào lúc tuổi già, đó là một điều bất đắc dĩ đối với Hải Thượng. Nhưng lòng mong ước được nhân dịp này tìm cách in ra để phổ biến rộng rãi tác phẩm của mình, vì vậy Hải Thượng ra đi. Hải Thượng đã kể lại tâm sự của mình trong tập Thượng kinh ký sự (kể chuyện ra thủ đô) về lúc này như sau: "... Bấy giờ tôi bứt rứt không biết là chừng nào, suốt đêm không ngủ. Tôi tự nghĩ: mình lúc trẻ mài gươm đọc sách, rồi nay đây mai đó, trong l5 năm đã không làm nên công trạng gì. Nay đã vứt bỏ công danh về ẩn ở núi Hương Sơn, dựng lều, nuôi mẹ, đọc sách mong tiêu dao trong vườn đạo lý của Hoàng Ðế, Kỳ Bá hai tổ sư của Ðông y tự lấy việc giữ gìn cho mình, cứu giúp người là đắc sách. Ai ngờ nay lại khổ về cái hư danh. Nhưng mình đã dày công nghiên cứu y học trong vòng 30 năm, soạn được một bộ Tâm Lĩnh không dám truyền thụ riêng cho ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết. Nhưng việc thì nặng, sức lại mỏng, khó mà làm được. Quỷ thần hiểu thấu lòng mình, chuyến này đi có chỗ may mắn đây cũng chưa biết chừng".
Không may cho Hải Thượng, ra thủ đô Thăng Long ở gần một năm trời, cả hai việc đều không thành: đến thủ đô, Hải Thượng được đưa vào khám bệnh ngay cho Trịnh Cán, nhưng đơn thuốc kê lên bị các thầy thuốc khác trong phủ chúa gièm pha và không được dùng. Sách thuốc cũng chẳng tìm được ai chịu trách nhiệm cho in. Nhưng cũng chính trong chuyến đi này, Hải Thượng đã rất vui mừng được biết sách thuốc của mình biên soạn không những đã được học trò sao chép dùng tại chỗ mà còn được đưa đi rất xa tới tận thủ đô và có người nhờ học sách thuốc của mình mà đã trở thành thầy thuốc giỏi ở thủ đô nên đã lập bàn thờ, thờ sống Hải Thượng để tỏ lòng nhớ ơn.
Cuối năm đó (1782) Hải Thượng Lãn Ông trở lại Hương Sơn, tiếp tục dạy học, biên soạn thêm một số tập trong toàn bộ tác phẩm "Y tông tâm lĩnh" cho đến khi ông mất. Nhân dân táng mộ Hải Thượng ở chân núi Minh Từ, khe Nước cạn, cách thị trấn Phố Châu, huyện Hương Sơn 4km, hiện nay vẫn còn.
Hải Thượng Lãn Ông được nhân dân đương thời chú ý và trọng vọng do tài chữa bệnh, dạy học, viết sách và làm thơ văn.
Sau khi Hải Thượng Lãn Ông mất, cho đến ngày nay chúng ta biết, học tập và nhớ ơn Hải Thượng Lãn Ông là do tác phẩm "Y tông tâm lĩnh" nghĩa là những điều đã lĩnh hội được của những thầy thuốc trước. Hiện nay người ta gọi tác phẩm này là "Hải Thượng y tông tâm lĩnh".
Bộ sách này được Hải Thượng Lãn Ông biên soạn trong vòng 10 năm: bắt đầu vào lúc Hải Thượng 40 tuổi (1760), căn bản hoàn thành khi Hải Thượng Lãn Ông tròn 50 tuổi (1770), nhưng từ đó cho đến một năm trước khi mất, nghĩa là trong vòng 20 năm nữa, Hải Thượng còn bổ sung viết thêm một số tập nữa như Y hải cầu nguyên (1782), Thượng kính ký sự (1783), Vận khí bí điển (1786). Toàn bộ sách Hải Thượng Lãn Ông để lại, bao gồm 28 tập và chia thành 66 quyển.
Một điểm đặc sắc đầu tiên nổi bật của bộ sách "Y tông tâm lĩnh" là Hải Thượng Lãn Ông đã tiếp thu có phê phán, chọn lọc rồi vận dụng những kiến thức cơ bản vào điều kiện cụ thể về khí hậu, về con người và về cả cách suy nghĩ của con người Việt nam, nhất là những lý luận cơ bản của nền y học Trung quốc cũng như những kinh nghiệm chữa bệnh của những thầy thuốc trước, của nhân dân lao động trong và ngoài nước, kể cả một số ít giáo sĩ phương Tây khi ấy mới sang Việt nam ta. Và khác với nhiều người viết sách trước, có tiếp thu của người khác nhưng cứ lơ đi, coi như đó là của mình, Hải Thượng Lãn Ông đã trình bày rõ ràng, trung thực trong mỗi tập sách viết ra là mình đã tiếp thu ý kiến của người xưa như thế nào để người đọc có thể có điều kiện kiểm tra hoặc dễ dàng có ý kiến phê phán trả lại.
Cùng với những lời tâm sự đã dẫn Hải Thượng Lãn Ông đến việc biên soạn bộ sách đã giới thiệu ở phần trên, chúng ta hãy cùng nhau trích đọc một vài đoạn nữa trong bộ "Y tông tâm lĩnh".
Mở đầu tập "Âu ấu tu trí" (nói về cách chữa bệnh trẻ em). Hải Thượng viết: "....Sách có nói: Chữa mười người nam không bằng chữa cho một người nữ, chữa cho mười người nữ không bằng chữa cho một người già, chữa mười người già không bằng chữa cho một em bé... vì trẻ con đau đớn chỗ nào không nói lên được mà chỉ thấy khóc, chứ không hiểu được đau bệnh gì cho nên chẩn trị không gì khó bằng. Riêng Cảnh Nhạc có luận rằng: Chữa bệnh trẻ em so với chữa bệnh người lớn lại rất dễ vì trẻ con bên ngoài không bị khí lục dâm dày dạn lâu ngày, bên trong cũng không bị bảy loại tình cảm dày vò, trừ các chứng kinh phong cam tích ra hễ trẻ có bệnh thì phần nhiều là do ăn uống mà ra, nếu xét rõ được nguyên nhân mà điều trị thì đã dễ lại càng thêm dễ. Ðọc đến đây, tôi ngạc nhiên, tấm tắc khen rằng: thật là nghe những lời từ xưa chưa từng nghe nói những lời mà mọi người khó nói được. Từ Hiên Viên, Kỳ Bá đến nay chỉ có một người ấy thôi...
Tại sao người đời trị bệnh trẻ em lại không xét cái ý trẻ em là thuần dương vô âm, nên bỏ âm để phối dương, mà cứ cho là thuần dương nên dễ phát nóng, rồi hễ cho thuốc thì cứ bốc những thứ thuốc đắng, lạnh, trẻ bẩm sinh vốn đã không có phần âm mà lại đánh bạt mất phần dương, âm dương đều không có, mà muốn cho mầm mống tươi tốt, thành được cây to sống lâu, chẳng là viển vông lắm sao? Tôi rất băn khoăn lo ngại về tình trạng này nên gom góp các bài luận, các đơn thuốc về nguồn gốc và chứng trạng bệnh trẻ em, của các nhà y học thành một tập nhan đề "Âu ấu tu tri" để bổ sung vào các phương pháp lập thành của người xưa, và ở cuối tập lại tiếp thêm một chương Lạc sinh, đấy là phần tâm đắc của tôi tự tay viết ra, là có ý dốc hết sở năng của mình mong muốn cứu sống trẻ em được một phần nào".
Tuy bộ "Y tông tâm lĩnh" là một bộ sách thuốc, nhưng một trong 28 tập không những được giới y dược ưa thích mà còn được các nhà văn, nhà thơ, nhà sử cũng như nhà triết học nước ta đánh giá rất cao. Ðó là tập "Thượng kinh ký sự , trong đó Hải Thượng Lãn Ông kể lại chuyến đi ra thủ đô Thăng Long chữa bệnh cho hai cha con Trịnh Sâm và Trịnh Cán, một số tầng lớp thượng lưu ở thủ đô, cũng như chuyện giao du với các nhà nho, nhà thơ ở thủ đô Thăng Long từ tháng giêng đến tháng mười năm Nhâm Dần (1782). Có thể nói trước và sau Hải Thượng Lãn Ông hầu như văn học nước ta chưa có một tác phẩm viết theo lối văn kể chuyện, người thực chép việc thực, nói lại những chuyện hằng ngày. Giá trị lịch sử của tập sách này là nó giúp ta thấy lại được một cách sinh động cuộc sống của chúa Trịnh, sinh hoạt giao du của tầng lớp quan lại, nhà nho, mô tả một số người có vai trò nhất định trong lịch sử cuối thời Lê như chúa Trịnh Sâm, Trịnh Cán, Chánh đường Hoàng Ðình Bảo (chức quan cao nhất của chúa Trịnh). Nó lại giúp ta thấy lại thủ đô Thăng Long cách đây hơn 200 năm, trong đó có nhiều di tích hiện nay không còn nữa. Cũng trong tập ký sự này, chúng ta được biết đời sống và hoạt động của một số thầy thuốc trong phủ chúa Trịnh, việc bảo vệ sức khỏe của vua chúa trong thời kỳ đó. Ðọc tập ký sự này, ta còn được biết trong khi nhiều người lấy làm sung sướng vì được vua chúa ban cho quan tước thì Hải Thượng lại hết sức từ chối, mà cũng chính vì thế mà thoát khỏi bị giết khi quân sĩ trong phủ chúa nổi lên giết hết các quan chức ở đây Hải Thượng viết: "Mồng 2 tháng 11 về đến nhà... được vài hôm, nghe tin cả nhà quan chánh đường (Hoàng Ðình Bảo) bị hại... Tôi mừng thầm nói: "Mình ẩn thân nơi rừng suối, chẳng đoái hoài gì đến lợi danh. Bỗng chốc bị triệu, phải chống gậy lên kinh đô ngót một năm trời. Xin xỏ năm lần bảy lượt mới được buông tha. Vạn nhất mình không kiên quyết, mang lấy một chức quan thì bây giờ danh lợi đã chẳng thành, mà cái thân lại bị nhục, hối thì đã muộn. May sao... tuy thân mắc vào vòng danh lợi nhưng không bị lợi danh mê hoặc... mình không đến nỗi bị thiên hạ chê cười, chỉ nhờ "không tham" đó thôi".
Do những giá trị văn thơ và lịch sử ấy nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy ngay từ năm 1923, tập truyện ký này đã được Nguyễn Trọng Thuật dịch và đăng ở tạp chí Nam Phong, năm 1950, Dương Quảng Hàm trích in trong Việt nam văn học sử yếu, năm 1959 Phan Võ dịch lại và nhà xuất bản Văn hóa đã cho in, nhân dịp 250 năm ngày sinh của Hải Thượng, nhà xuất bản Văn học đã cho sửa chữa lại và tái bản lần nữa.
Hai mươi bảy tập còn lại của tác phẩm này dành hoàn toàn cho những vấn đề thuần túy về chữa bệnh, dùng thuốc, nhưng do cách cấu tạo của bộ sách, lối viết đặc biệt của Hải Thượng Lãn Ông, nên bên cạnh những kiến thức chuyên môn về chữa bệnh dùng thuốc, chúng ta còn biết và học tập được ở Hải Thượng quan điểm về ngành nghề, đạo đức của người thầy thuốc cũng như nếp suy nghĩ hiếm có của một tri thức thời đó.
Về quan điểm ngành nghề. Phải sống lại hoàn cảnh lịch sử nước ta ở thế kỷ thứ XVIII, khi mà tư tưởng cầu danh lợi, ham làm quan, làm tướng coi thường nghề thuốc đang ngự trị ở đầu óc hầu hết trí thức nước ta lúc ấy, mới thấy hết khó khăn của Hải Thượng Lãn Ông khi chọn nghề thuốc làm lẽ sống của đời mình. Hãy nghe Hải Thượng kể lại những lời bàn ra: "Một tân thủ khoa họ Trần, người bạn mới quen ở quận bên, một hôm đến chơi thấy trên bàn có chồng sách thuốc, biết tôi say sưa với nghề thuốc đã: "Tỏ lời can ngăn đôi ba lần mà không thể được" lại nói thêm "Ðạo lý rất lớn nhưng gọi là Ðạo tức là đường lối trị nước"... Chính sách hay phép tắc tốt thì sử sách còn ghi, còn như đạo làm thuốc chỉ thấy chép ở ngoại sử. Tuy Ngũ đế kỉ có chỗ chép về nghề thuốc thì lại chỉ nói song song với việc làm ruộng mà thôi, ngoài ra không thấy đâu nói đến cả. Cho nên nhà nho đời này qua đời khác đều học tập kinh nghiệm Xuân Thu, sử Tư Mã, dùi mài suốt đông sang hè đủ để làm bước thang phú quí, lẫy lừng công danh. Còn như việc làm thuốc chỉ là một nghệ thuật mà thôi. Nếu như có ai coi trọng một chút thì nói là nhân thuật là cùng. Như vậy, phải chăng đạo làm thuốc không chính thức là nền tảng trong đạo lý của người đời đó ru?".
Ngay cả khi được thấy Hải Thượng được chúa Trịnh triệu ra thủ đô Thăng Long, một vị quan văn thư có nhiệm vụ đưa Hải Thượng lên kinh đô đã cho rằng, hẳn là vị tài gì khác mà Hải Thượng được tiến cử chứ không phải do nghề thuốc nên vị quan này đã nói: "Tôi nghe quan lớn tôi nói cụ là bậc cao ẩn, mượn tiếng thầy thuốc đó thôi".
Nhưng chúng ta thấy, mặc ai nói ra nói vào, lòng yêu nghề thuốc của Hải Thượng vẫn không thay đổi vì "nghề này có thể giúp người ta yên vui", vì "đạo làm thuốc cũng giống như đạo làm tướng".
Về đạo đức của người thầy thuốc. Hải Thượng viết: "Ðã là thầy thuốc thì nên nghĩ đến việc giúp người, không nên vắng nhà lâu để tìm vui thú riêng như đi chơi ngắm cảnh, mang rượu lên núi uống chơi, vì nhỡ có bệnh cấp cứu, người ta tìm thầy không gặp kịp, hại đến tính mạng con người". Hoặc như "Nếu cùng một lúc có nhiều người mời đi thăm bệnh thì phải căn cứ vào bệnh cấp đi trước, bệnh không cấp đi sau chứ không nên vì người bệnh giàu hay nghèo mà đến trước đến sau, như lúc cho thuốc cũng căn cứ vào tật bệnh chứ không nên căn cứ vào tiền ít mà cho thuốc tốt xấu".
"Phàm học thuốc, phải luôn luôn trau dồi nghiệp vụ: khi có chút thời giờ nhàn rỗi, nên luôn luôn nghiên cứu sách thuốc xưa nay, luôn luôn phát huy biến hóa thâu nhập được vào tâm, thấy rõ được ở mắt, thì tự nhiên ứng được vào việc làm mà không phạm sai lầm".
"Chữa bệnh phải toàn điện. Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hay những người mồ côi goá bụa hiếm hoi lại càng nên chăm sóc đặc biệt, vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn những người nghèo khó thì không đủ sức đón thầy giỏi, vậy ta nên để tâm một chút, họ sẽ được sống một đời... Những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại tuỳ sức mình mà chu cấp cho họ nữa, vì có thuốc mà không có ăn, thì cũng vẫn đi đến chỗ chết. Cần phải cho họ được sống toàn diện, thì mới đúng là nhân thuật".
Ðáng quý hơn nữa, và điều này hầu như ít thấy ở những thầy thuốc trước và sau Hải Thượng Lãn Ông: đó là tinh thần không giấu dốt, dám mạnh dạn trình bày những trường hợp bệnh không khỏi, người bệnh đã chết, để người sau rút kinh nghiệm. Thực vậy, cùng với tập "Dương án" trong đó kể lại 17 bệnh án khó mà chữa khỏi, Hải Thượng còn viết một tập gọi là "Âm án", trong đó Hải Thượng đã trình bày 12 trường hợp bệnh khó, và mặc dù đã đem hết tinh thần cứu chữa đến cùng, còn nước còn tát của mình, nhưng cuối cùng người bệnh vẫn chết. Lý do cầm bút biên tập "Âm án", Hải Thượng đã viết như sau:
"Nghề làm thuốc là nhân thuật, thầy thuốc phải việc cứu giúp người làm hay. Nhưng thói thường cứu được một người thì hoa chân múa tay biểu dương cho mọi người cùng biết, còn lỡ thất bại thì giấu đi, thường người ta hay giấu những thói xấu của mình, mà không đem sự thực nói với người khác... Trong việc chữa bệnh, tôi từng ứng biến để đối phó với bệnh tình, chuyển nặng ra nhẹ, cứu chết lấy sống được bao nhiêu trường hợp mà vẫn có những chứng phải bó tay đợi chết cũng không phải là ít. Tôi không tự thẹn với trình độ thấp kém trong việc cứu người cho nên ngoài những "Dương án" lại chép thêm một tập kể lại những lời khó nói ra được, gọi là "Âm án".
Mong những bậc trí thức có chí làm thuốc sau này, khi thấy những chỗ hay của tôi chưa đáng bắt chước, nhưng thấy chỗ dở của tôi cần phải lấy làm gương, không nên quá yêu tôi mà bảo: chỉ chữa được bệnh mà không chữa được mệnh. Thì đó mới là cái may cho đạo y". Chỉ đọc một vài đoạn trích trong toàn bộ tác phẩm "Y tông tâm lĩnh", chúng ta cũng thấy những tâm tư suy nghĩ cao quý của Hải Thượng Lãn Ông. Và chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Hải Thượng còn sống, còn dạy học, thì mỗi lời mỗi câu trong tác phẩm của Hải Thượng đều được học trò của mình chép lại một cách đầy đủ. Cho đến khi Hải Thượng Lãn Ông đã mất đi rồi, những người học trò trực tiếp của Hải Thượng Lãn Ông cũng không còn nữa, đáng lẽ người ta chỉ cần chép lại những kiến thức thuần túy về chuyên môn chữa bệnh, chế thuốc và dùng thuốc thì người ta vẫn chép lại đầy đủ cả những suy nghĩ tâm tư của Hải Thượng. Tác phẩm "Y tông tâm lĩnh" của Hải Thượng Lãn Ông tuy hoàn thành về căn bản vào năm 1770, nhưng đã tồn tại gần như nguyên vẹn bằng con đường chép tay, chuyển người này qua người khác, để chờ 115 năm sau (1885) mới được khắc gỗ và in ra phổ biến rộng rãi trong nhân dân và truyền đến ngày nay.
Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác, thân thế và sự nghiệp, là niềm tự hào của dân tộc ta. Tuy sống cách ta hơn 250 năm, những tư tưởng và phương pháp tư tưởng tiến bộ cũng như thái độ khoa học chân chính của Hải Thượng Lãn Ông vẫn còn là bài học còn tính chất thời sự và rất quý báu đối với chúng ta ngày nay.
Vitranet Việt Nam

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

VUI NGÀY TẾT NGUYÊN TIÊU


 Nguyễn Thị Kim Khánh lớp 8/5

 Nước ta từ ngàn đời nay, Tết là một ngày hội đầu xuân mà cả gia

đình được gặp gỡ, xum vầy bên nhau. Về với gia đình ta mới thấy

được hương vị Tết là như thế nào, thấy được tình yêu thương gắn

bó giữa mỗi thành viên trong gia đình và giữa tình làng nghĩa xóm

với nhau. Tết như đã trở thành một phong tục tập quán của mỗi con

người, mỗi gia đình, mỗi dân tộc trên đất nước Việt Nam – đất nước

với những nền văn hóa cổ truyền độc đáo mà không dân tộc nào trên

 Ngày Tết ở Việt Nam rất có ý nghĩa và thiêng liêng, bởi Tết không

những là một ngày hộ để mọi người vui chơi, được khoác lên người

những bộ quần áo mới, được nhận được những phong bao lì xì đỏ

chói mà còn có giá trị tinh thần với mọi người dân trên mảnh đất hình

chữ S này. Nó đem lại niềm háo hức cho trẻ thơ và những sự chờ

đợi được quây quần bên con cháu của các ông bà, cha mẹ. Tết là

thời gian cả nhà cùng bên nhau dọn dẹp nhà cửa, đến 23 tháng

Chạp thì tiễn ông Táo về trời. Theo quan niệm của người Việt Nam

ta, ông Táo là người có nhiệm vị giữ ngọn lửa bếp trong gia đình, là

người trình tâu với Ngọc Hoàng những việc làm mà gia đình đã làm

trong năm vừa qua. Lau dọn bàn thơ tổ tiên cũng là một phong tục

không thể bỏ qua trong những ngày đầu năm nhằm nhớ ơn tổ tiên

đã mất, trên mỗi bàn thờ của mỗi nhà thường có chưng một mâm

ngũ quả để cầu mong một năm mới “được cầu dừa đủ xài”. Rồi mỗi

gia đình cùng nhau đi chợ sắm tết, nào là bánh mứt, đủ loại trái

cây…Ngoài ra một thứ không thể thiếu đó là bánh chưng xanh được

làm bởi gạo nếp, đậu xanh, thịt heo và các gia vị đậm chất dân tộc

sau đó được gói lại bởi lá dong rồi nấu lên,bánh có hình vuông

tượng trương cho công lao ba mẹ lớn tựa đất trời. 29 Tết cả nhà

cùng quây quần bên nhau gói bánh chưng, cùng trò chuyện vs nhau

về những gì đã xảy ra trong năm ngoái, từ những niềm vui, nỗi buồn

đến những điều nhỏ nhặt nhất. Và một vật không thể thiếu trong

ngày Tết của người Việt Nam ta chính là hoa mai, hoa đào. Ngày tết,

dù giàu hay nghèo thì mỗi gia đình đều có một cành mai, cành đào

trong nhà, miền Bắc thì trang trí bằng hoa đào, miền Trung và miền

Nam cũng không kém với sắc vàng tươi sáng của hoa mai. 30 tết là

khoảnh khắc thiêng liêng, cái đêm mà mọi người đều mong đợi, là

cột mốc giao nhau giữa năm cũ và năm mới, là thời gian để mọi

người trong gia đình được đoàn tụ, chúc nhau những lời chúc tốt

đẹp nhất. Là thời gian để mọi thành viên trong gia đình cùng quây

quần để đón thời khắc đẹp đó vs những màn pháo hoa rực rỡ. Giây

phút ấy thật thiêng liêng và hạnh phúc biết bao. Cái không khí đầm

ấm ấy chỉ cảm nhận được bằng mắt,nụ cười và trái tim. Sáng mùng

một cả nhà lên chùa hái lộc đầu năm và cầu nguyện cho gia đình

qua năm mới được suôn sẽ, mạnh khỏe, làm ăn thuận buồn xuôi gió,

cho con cháu chăm ngoan học giỏi. Đến mùng 2, mùng 3 Tết, cả nhà

dắt nhau đi thăm họ hàng, bà con láng giềng, họ trao cho nhau

những lời chúc năm mới và lì xì cho con cháu những phong bao lì xì

đỏ chói vs những lời căn dặn phải học giỏi, nghe lời cha mẹ. Cứ như

thế, ngày Tết trôi qua vs những niềm vui và hạnh phúc của mỗi gia

đình, những ngày Tết kết thúc cũng là bắt đầu cho một năm mới đầy

vui vẻ, tài lộc và khởi đầu cho những điều mà mọi người mong muốn

 Ngày Tết trên quê hương chúng ta thật đẹp và thật ý nghĩa, nó kéo

mọi người lại gần nhau hơn và giúp cho họ thể hiện những niềm yêu

thương của mình đối với gia đình. Tết qua đi để lại những lời hứa

hẹn trong năm mới và những sự cố gắng để đạt được những thành

công, những ước mơ mà mỗi người chúng ta đang cố nắm lấy. Hãy

trân trọng và giữ vững những bản sắc văn hóa cổ truyền của nước ta

mãi mãi bởi nó đem lại niềm vui và rất có giá trị với đất nước ta – đất

nước nghìn năm văn hiến này.

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Bài thơ về mùa hè

        Mùa hè

Mùa hè ơi vì sao đến vội
Để mưa hè bỗng phải nghẹn ngào
Cánh phượng hồng buồn rơi trên cửa lớp
Dậy trong lòng nỗi xao xuyến, bâng khuâng.
               ***
Rồi giờ đây chỉ còn cơn gió thoảng
Trống buông dài yên giấc ngủ say
Ve râm ran dàn ca trong vòm lá
Học trò đi rồi ai nghe đây?
               ***
Mùa hè đến kéo theo những nỗi nhớ
Kéo theo những dòng lưu bút nhớ thương
Chút thương thầm để vương trong kỉ niệm
Giữ tuổi thơ trong cánh phượng đợi chờ.
               ***
Mùa hè ơi đến chi mà vội thế?
Để lòng ta rộn ràng bao nhớ thương
Phượng vĩ nở trên cành bao cánh đỏ
Để lòng ta sợ tới buổi chia ly.

                            Tác giả: Gia Long


Bài văn, bài thơ của học sinh với chủ đề thầy, cô(Văn thơ dự thi)





        “Về lại trường xưa với bao kỉ niệm ,bóng dáng cô thầy vấn vương không rời.Một thời tuổi thơ trôi theo cánh phượng, lơì thầy cô vong mãi.”…..Mỗi khi nghe lời bài hát này vang lên lòng tôi bỗng lại mơn man nhớ những kỉ niệm của tuổi học trò .Đặc biệt là người đã gắn bó với tôi suôt hai năm học của bặc trung học đã chắp cánh cho những ước mơ của tôi đươc bay cao, bay xa hơn.Không ai khác chính là người mẹ thứ hai và là người cô mà tôi vô cùng kính trọng.
       Là người Việt Nam tôi như thuộc lòng về truyền thống tôn sư trọng đạo. Vì vậy trong tôi luôn biết ơn người đã dạy cho tôi con chữ và còn cho tôi những lời khuyên chân thành. Đó cũng là một hành trang và kiến thức để tôi bước vào đời mà cảm thấy tự tin bởi tôi đã có những gì cần thiết trong cuộc sống. Nói đến đây tôi chợt nhớ lại kỉ niệm của tôi với cô vào đầu lớp sáu. Tôi bỡ ngỡ và cảm thấy mình không bằng chúng bạn , tôi rụt rè và rất ít nói chuyện như một con ốc sên cuôn mình trong vỏ của mình. Nhưng cô đã không quên tôi dường như cô đã đọc được ý nghĩ của tôi qua hành động. Vì vậy cô đã đến bên cạnh tôi và an ủi tôi, động viên tôi, càng nhìn cô, càng nghĩ về cô tôi cảm thấy cô là người mẹ thứ hai của mình. Bởi tôi đã xem cô như mẹ nên tôi cảm thấy hết cô đơn .Bắt đầu từ đó tôi đã trở nên cởi mở và nói chuyện nhiều hơn. Người cô mà tôi muốn nhắc đến ở đây là cô Trần Thị Cảnh.Cô là giáo viên chủ nhiệm lớp sáu và phụ trách bộ môn Toán của lớp tôi. Cô có dáng người nhỏ nhắn; khuôn mặt hiền lành, phúc hậu. Điểm sáng trên gương mặt anh tú của cô là gò má cao, ửng hồng và đôi mắt màu xám tro với hàng lông mi đen tuyền. Đối với tôi, cái ánh nhìn qua gọng kính của cô càng trở nên thân thiết và triều mến hơn. Mái tóc đen chấm ngang vai của cô, được tém lên thật gọn. Qua hình ảnh của cô tôi có thể mường tượng được tính cách gọn gàng nhưng vô cùng tỉ mỉ, chu đáo của cô. Mỗi khi đến lớp, cô luôn dặn dò chúng tôi phải chăm chú nge thầy cô giảng bài để có kết quả học tập tốt nhưng cô không quên cho chúng tôi lời khuyên về nề nếp. Lời cô nói tôi vẫn nhớ như in: “Muốn có kết quá học tập tốt thì trước tiên phải có kỉ luật tốt”. Tôi hiểu niềm tin yêu mà cô đặt vào chúng tôi, vì vậy tôi luôn cố gắng hoàn thành tốt để xứng đáng với điều đó.
          Tôi nghĩ nghề nhà giáo là một nghề cao cả, xứng đáng để chúng ta tôn trọng và suy tôn nó. Mỗi công dân Việt Nam cần phải có lòng tôn sư trọng đạo “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư" – có nghĩa một chữ cũng là thầy mà nửa chữ cũng là thầy. Bởi tôi luôn mang sự kính trọng đối với thầy cô người đã mang đến cho tôi kiến thức nên tôi luôn nhủ mình phải học tập tốt, làm thầy cô vui lòng. Sẽ được sự yêu thương của thầy, cô dành cho tôi đó cũng là vinh hạnh mà những người học trò như tôi mong muốn. Ngày 20-11 hằng năm, đạt được hoa điểm mười cũng là một cách đẻ tri ân thầy cô. Ngày này cũng được các thầy cô trông mong để đươcj các học trò thân yêu của mình đền ơn đáp nghĩa và cũng là dịp để cô thầy xem lại kết quả suốt những năm học vừa qua. Đây cũng là dịp để cấc thầy cô có dịp ngồi lại với nhau trò chuyện và ôn lại nhưng kỉ niệm xưa. Với tôi vào ngày này tôi muốn gửi đến cô Cảnh những lời cảm ơn chân thành nhất để ghi nhớ công ơn của cô với tôi nói riêng và tập thể lớp 8/5 nói chung .Người đã cho tôi niềm tin để học tập tốt và có kết quả mà không còn e rè .
          Tôi rất yêu cô và yêu cả nghề nhà giáo. Ước mơ của tôi sau này sẽ trở thành cô giáo dạy môn ngữ văn và làm người có ích cho xã hội theo đúng niềm tin của cô đặt cho tôi.

                                                                                            
                                                                                                           Nguyễn Hoàng Anh Thư




Cô Cho Em
Thấp thoáng bóng áo dài
Lướt qua khung cửa số
Thướt tha mái tóc dài
Nhìn cô em, thật đẹp
Làn gió đùa với lá
Múi hương thật thân quen
Thoang thoảng qua cửa lớp
Bất chợt ngồi ngẩn ngơ
Nhìn cô em cứ ngỡ
Người mẹ đến với em
Bởi cô thật hiền từ
Những lời nói ngọt ngào
Em vẫn mãi khắc ghi
Bóng cô ở nơi đây
Dù mai này đi xa
Cô vẫn mãi là mẹ
Người mẹ hiền thứ hai
Cho em thêm kiến thức
Làm hành trang cuộc sống
Chắp cánh bước vào đời
Cô, mẹ của em.

                   Nguyễn Hoàng Anh Thư




                                                             ƠN CÔ
                                          Bao năm tháng nay em giật mình tỉnh giấc
                                          Sắp qua rồi những tháng ngày thơ ngây
                                          Những ngày vui của một thưở đến trường
                                          Đang trôi dạt theo từng chòm mây trắng
                                          Em nhớ lắm những ngày xưa đằm thắm
                                          Cô dạy em từng nét chữ vần thơ
                                          Cô đưa em gõ cánh cửa cuộc đời
                                          Và duyên dáng của một người con gái
                                          Tâm hồn em một nỗi buồn dài
                                          Cô ôm ấp, xoa đầu khi em khóc
                                          Vầng trán cô những nếp nhăn se sắt
                                          Tuổi nhỏ chúng em đâu biết ưu phiền
                                          Cô dìu dắt cho em những điều hay lẽ phải
                                          Em chợt nhận ra một điều nho nhỏ
                                         Một tình thương bao la vô bờ bến
                                         Cô dành tất cả cho chúng em.


                                                                                         Châu Thị Mĩ Hiền



















Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

BÀI THI THUYẾT TRÌNH SÁCH - LỚP 8/5

Trong đôi mắt của mỗi con người chỉ có thể thấy một phần rất nhỏ bé trong một thế giới rộng lớn, bao la và đầy sự kỳ diệu. Vì thế, có một đồ vật có thể cho chúng ta thấy được, cảm nhận được và hình dung ra mọi thứ cách ta hàng trăm mét hay cách hẳn một đất nước. Đó chính là sách. Qua đó, cũng thể hiện được rằng sách chính là một người bạn thân giao, người thầy tri kỉ của chúng ta.Như vậy sách là một cách để chúng ta thấy được cuộc sống tốt đẹp hơn. Mặc dù lịch sử có trải qua hàng vạn hay hàng nghìn năm thì thế hệ sau này cũng có thế biết được trước đây ông cha ta đã làm gì để giữ nước và dựng nước.
Cho nên, đến với cuộc thi thuyết trình sách ngày hôm nay, em muốn giới thiệu về cuốn sách có tựa đề: “Mỗi Bước Người đi đều là lịch sử”- với những mẫu chuyện của các nhiếp ảnh kể lại về Người cha thân yêu. Được nhà xuất bản Thanh niên cho xuát bản năm 2009.
Tác giả cuốn sách này là Trần Đương. Cuốn sách của ông có những mục sau:
+Mỗi bước Người đi đều là lịch sử.
+Trong đời tôi, một bình minh đã đến.
+Ấm áp những chân dung đời thường của Bác Hồ.
+Điều mà Lâm Hồng Long không bao giờ dám nghĩ tới.
+Những năm tháng bên người.
+Vũ Đình Hồng, một phóng viên TTXVN đã để lại những tấm ảnh vô giá về Bác Hồ.
+Chuyện kể của một người công giáo nhiều năm chụp ảnh Bác Hồ.
+Tấm ảnh của một đứa con Trị - Thiên.
+Horst Sturm, một nghệ sĩ Đức chụp ảnh Bác Hồ.
Mỗi mục là những mẩu chuyện thú vị - chuyện đời, chuyện nghề của những nhà nhiếp ảnh, tầng tầng lớp lớp những số phận, những tên tuổi, những sự kiện, những con người trong nước, ngoài nước trong các lĩnh vực Cách mạng. Trong cuốn sách này có nhắc các nhà nhiếp ảnh tiêu biểu như: Vũ Năng An, cụ Võ An Ninh, Nguyễn Hồng Nghi, Lâm Hồng Lâm, Nguyễn Kim Côn, Đinh Đăng Định, Vũ Đình Hồng, Bùi Á, Horst Sturm. Không chỉ dừng lại ở đó, cuốn sách còn nhắc đến anh Văn – tức đại tướng Võ Nguyên Giáp, anh Cả của nhân dân Việt Nam và là người học trò thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các nhà nhiếp ảnh trên đều có một lòng kính yêu Bác Hồ rất sâu đậm và tha thiết. Qua các bức ảnh mà các nhà nhiếp ảnh gia chụp được, ta có thể thấy qua đời sống, quan hệ với mọi người, trong lời nói và bài viết của Bác đều giản dị nhưng rất đỗi tự nhiên và đầy sự quyết đoán, cương trực.Nói đến đây, em xin trích một đoạn thơ của Tố Hữu được nhắc đến trong mục “Ấm áp những chân dung đời thường của Bác Hồ”:
“Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị
Màu quê hương bền bỉ, đậm đà”…
“Bác Hồ đó, ung dung châm lửa hút
Trán mênh mông, thanh thản một vùng trời..”
Dù Bác là Chủ tịch của một nước nhưng Bác không chỉ quan tâm, chăm lo, đến tận nơi thăm hỏi người dân trong nước mà còn ngoài nước. Bác làm việc suốt đời, suốt ngày nhưng vẫn không quên tăng gia sản xuất, cung cấp thực phẩm cho nhân dân. Những điều này nói lên tấm lòng của Bác luôn hướng về dân tộc, về đất nước Việt Nam của chúng ta. Bác không chỉ đựợc ngợi ca trong nước mà còn được cả thế giới khâm phục với tấm lòng bao dung, độ lượng của Bác. Bác và người dân của các nước bạn có quan hệ thân mật. Horst Sturm đặc biệt cảm động trước sự ân cần, triều mến của Người với các cháu thiếu nhi. Từ đó quan hệ của nước ta càng thêm gắn bó với các nước bạn.
Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến những con số thống kê, hiện nay có tới 7.000 kiểu ảnh về Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Đang được lưu giữ tại các cơ quan, bảo tàng, báo chí, riêng Thông tấn xã Việt Nam có khoảng hơn 5.000 kiểu. Đó là một tài sản vô cùng quí giá và cũng có thể xem là tài sản vô giá mà chúng ta có thể tự hào – với nó, chúng ta mãi mãi lưu giữ những hình ảnh sinh động về vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Có được tài sản này, trước hết, không thể khác, là nhờ có công lao và tài năng của những nhà nhiếp ảnh. Bằng tình yêu, lòng nhiệt huyết và sự đam mê của mình, họ đã ghi được hàng vạn khoảnh khắc trong cuộc đời đấu tranh Cách mạng và cuộc sống đời thường của Bác. Văn chương có thể tiếp tục xây dựng những hình tượng cao cả và đẹp đẽ về Bác, song nhiếp ảnh chỉ có thể làm được một lần, tức là khi Người còn sống. Vâng, chỉ diễn ra một lần duy nhất mà thôi. Chính vì vậy, mỗi tấm ảnh có giá trị hàm chứa một khoảnh khắc đáng ghi nhớ về người Cha thân yêu.
Sau khi đọc xong cuốn sách này, em cảm thấy đây là một cuốn sách hay phản ánh đúng sự thật về tấm gương của các nhà nhiếp ảnh khi chụp ảnh Bác. Con nguời của Bác luôn hội tụ đủ các yếu tố của một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Đó là một tấm gương tốt để mọi người noi theo
Cuối bài, em xin trích một câu nói của Horst Sturm- nhiếp ảnh người Đức đã nhiều năm chụp ảnh Bác Hồ. Một câu tâm sự mà nghe như khái quát cả một tư tưởng chủ đạo, có ý nghĩa xuyên suốt cuộc đời ông:
“Bắng ống kính, nắm bắt được cuộc đời trong tất cả sự đa dạng của nó, được tiếp xúc với những con người khác nhau trên Trái Đất này, cuộc đời này, được thể hiện niềm vui và nỗi khổ của con người, được phản ảnh một cách sang tạo đất nước và đồng bào mình, phản ảnh nhanh, nhạy và xúc động các sự kiện thời sự có liên quan đến vận mệnh lịch sử của toàn dân tộc, của mỗi con người, Vâng, bằng các phương tiện của nhiếp ảnh, đối với tôi mãi mãi là nhiệm vụ cao đẹp nhất.”



Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

Bài viết về đêm trung thu

Tuổi thơ ấu biết bao kỷ niệm đẹp, bao trò nghịch ngợm, vui đùa không kể xiết. Nào là được thưởng những món quà khi đạt học sinh giỏi, tết thiếu nhi 1/6. Nhưng rộn ràng, háo hức chờ đón vui chơi nhất vẫn là những đêm rằm tháng tám hằng năm, đêm có ánh trăng rằm sáng nhất trong năm và những trò chơi không thể quên được của một thời thơ ấu trong mỗi chúng ta. Khi các bác nông dân từ ruộng trở về thì màn đêm dần buông xuống, bao trùm lên xóm làng và ngọn tre. Mọi người trong làng em ai nấy đều hồ hởi, nhất là bọn trẻ em thì vui mừng khôn xiết vì hôm nay là tết trung thu, chúng được ra sân đình để nhận quà trung thu vào dịp rằm tháng tám hằng năm, được các anh chị đoàn viên tổ chức cho các em nhỏ. Từ sau chân trời phía đông chợt ửng sáng, một mảnh trăng vàng dần dần xuất hiện và nhô ra, tỏa ánh sáng non nớt xuống các mái nhà và rặng tre. Trăng lên cao rất nhanh, chẳng mấy chốc trăng đã tròn to như cái đĩa, treo lơ lửng, trôi bồng bềnh trên nền trời trong xanh, nhấp nháy bởi các ánh sao càng tô điểm cho bầu trời thêm lung linh đẹp mắt. Sân nhà em được ánh trừng len lỏi qua vòm cây bưởi rọi xuống nền sân những mảnh gương phản chiếu tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp. Bỗng có những tiếng trống ếch vang ròn, các em nhỏ ùa ra sân đình, chúng xếp hàng ngay ngắn, đêm trung thu diễn ra thật trang trọng khi được bác bí thư tuyên bố lý do, khen ngợi những em học giỏi, thích thú nhất là đến phần nhận quà, mỗi em được nhận một gói quà to. Sau đó là tiết mục văn nghệ, các màn trình diễn múa lân làm cho cảnh vật đêm rằm thật nô nức vui nhộn lòng người. Các em được ăn bánh kẹo, trái cây, vui chơi thỏa thích. Khoảng đến mười giờ đêm thì các em phải tạm biệt đêm trung thu để trở về nhà cùng ba mẹ, trong lòng các em rất vui nhưng vẫn nuối tiếc. Về khuya, trăng càng trông cao hơn, xa hơn, ánh trăng vằng vặc, cảnh vật dưới trăng trở nên yên bình, thanh tịnh. Tiết trời mát rượi làm cho tâm hồn người mang mác thanh tao. Nhìn ra cánh đồng đầu làng, một thảm lúa màu xanh bát ngát, rung rinh đùa vui theo gió. Chỉ vào những đêm trăng sáng, cảnh vật ở quê em mới hiện lên rõ mồn một, sáng trong huyền ảo. Mai này dù đi bất cứ nơi đâu nhưng trong lòng mỗi người dân quê em vẫn không thể nào quên được bao nhiêu kỉ niệm của một thời thơ ấu đùa nghịch dưới trăng, và càng không thể nào quên được cảnh vật thiên nhiên thơ mộng quê em vào những đêm trăng sáng.